spot_img
Home Blog

Cõi âm có thực sự tồn tại?

Cõi âm là nơi linh hồn loài người chúng ta cư ngụ sau một cuộc sống vật chất đầy sự trải nghiệm. Các bạn có tin rằng đó là một thế giới có thật hay không? Bài viết này, mình sẽ kể cho các bạn nghe một câu chuyện về thế giới cõi âm. Bài viết này dựa trên một câu chuyện hoàn toàn có thật.

Mình từng có cơ hội tiếp cận với một bà lão đã có trải nghiệm cận tử. Bà ấy rất nổi tiếng ở khu mình sống bởi sự việc chết đi rồi sống lại của mình. Vào ngày thứ 2 trong tang lễ của bà, bà bật dậy trong chiếc quan tài, mặt đầy hốt hoảng như vừa trải qua một cơn ác mộng. 

Trong suốt quãng thời gian mà mọi người cho rằng bà đã chết, linh hồn của bà lại bị lạc vào một thế giới xa lạ. Bà kể thế giới ấy chẳng khác gì thế giới mà người trần gian đang sống. Bà bị lạc lõng và đi lang thang khắp mọi nơi. Bà băng qua những cánh đồng, thấy nhiều người đang gặt lúa; dạo qua trường học thấy học sinh đang nô đùa; đi tới chợ thì thấy chợ có người mua kẻ bán tấp nập. Mọi thứ đều giống thế giới bà từng sống, chỉ khác một chút là ánh sáng ở đây hơi u ám. 

Khi vừa tới chợ, bà cảm thấy bụng đói cồn cào. Rồi bà ngửi thấy có mùi bánh rán thơm nức ở phía đầu chợ. Bà đứng nhìn người bán bánh rán một lúc rồi bất ngờ chụp lấy một chiếc bánh chạy thục mạng. Người bán bánh miệng la hét, tay cầm đôi đũa dài đuổi theo. Thấy bị đuổi, bà càng cố chạy nhanh hơn. Chạy được một đoạn thì bà vấp ngã. Bà vội chuyển mình, lưng xoay về hướng mặt đất; thấy người bán bánh rán đã sắp đuổi tới, bà vội bật dậy định chạy tiếp. Kỳ lạ thay, sau cú bật dậy đó bà lại thấy mình xuất hiện ở trong quan tài, phía bên ngoài thì đầy tiếng kèn trống, tiếng người kêu khóc. Lúc được con cháu đưa ra khỏi quan tài, bà mới biết rằng mình đã chết được hai ngày rồi.

Mình nghe câu chuyện mà bà kể thì thực sự tin là nó có thực bởi vì mình cũng từng đọc được nhiều chia sẻ về trải nghiệm cận tử. Nhưng mình chỉ thấy lạ là tại sao bà không hỏi xin người ta bánh rán biết đâu người ta cho mà lại phải giật lấy chiếc bánh rồi chạy. Mình đem thắc mắc đó hỏi bà thì bà nói lúc bà định xin bánh thì phát hiện ra người bán bánh nói thứ tiếng gì đó xì xồ như tiếng Trung, mà bà thì từ bé đến giờ đã học tiếng Trung bao giờ đâu. Nói đến đây chắc hẳn là các bạn đã hiểu rõ tầm quan trọng của việc học tiếng Trung rồi chứ, đi tới đâu cũng cần dùng. Nếu bạn nào muốn học tiếng Trung online, hãy nhớ inbox cho mình nhé. Câu chuyện của mình đến đây là kết thúc, cảm ơn các bạn đã lắng nghe. Xin chào và hẹn gặp lại trong các tập tiếp theo.

Học tiếng Trung trực tuyến như nào cho hiệu quả?

Học tiếng Trung trực tuyến ngày nay đã không còn xa lạ đối với mọi người. Hình thức học trực tuyến đã sớm xuất hiện ở các nước phát triển, đáp ứng nhu cầu học tập cho nhiều nhóm đối tượng từ học sinh, sinh viên cho tới những người đã đi làm có nhu cầu bổ sung kiến thức. Việc học trực tuyến được đánh giá là có hiệu quả không khác gì việc học offline hơn nữa còn tiết kiệm được nhiều chi phí và thời gian trong việc đi lại.Trong bài viết này, mình sẽ chia sẻ một số kinh nghiệm giúp việc học tiếng Trung trực tuyến có hiệu quả hơn nhé.

Cần chuẩn bị gì trước khi bắt đầu học tiếng Trung online?

Tâm lý và mục tiêu là hai yếu tố quan trọng cần chuẩn bị trước khi bạn đưa ra quyết định học bất cứ ngôn ngữ nào. Đầu tiên bạn cần phải chuẩn bị tâm lý sẵn sàng cho việc học. Hãy suy nghĩ kĩ xem mình có thực sự yêu thích tiếng Trung không, nếu mình thành thạo ngôn ngữ này mình sẽ thu hoạch được những lợi ích gì và mình sẽ phải bỏ ra những gì. Nên lên kế hoạch trước về thời gian biểu của mình, vạch ra quỹ thời gian mà mình có thể theo đuổi việc học tiếng Trung là bao lâu.

Bạn cần phải đặt ra mục tiêu mình sẽ chinh phục tới trình độ nào của tiếng Trung. Việc học tập mà không có mục tiêu dễ dẫn đến việc bỏ dở trong quá trình học và đó sẽ là sự lãng phí lớn nhất về thời gian, tiền bạc cũng như công sức của bạn. Hãy đặt ra mục tiêu và nhất định phải đạt được mục tiêu đó. Ví dụ bạn đặt mục tiêu sẽ đạt được trình độ HSK 4, hãy kiên trì học cho tới khi đạt được trình độ đó. Kiên trì sẽ dẫn tới sự thành công của bạn.

Bạn cũng nên chuẩn bị sẵn một số dụng cụ như vở ô ly, bút chì và bút bi nước để tập viết. Ngoài ra, bạn cũng nên có một chiếc laptop, tai nghe để tiện cho việc học trực tuyến. Khi học, bạn nên chọn phòng riêng yên tĩnh, giảm thiểu tạp âm xung quanh và có mạng wifi đủ tốt. Bạn hãy chú ý mang tai nghe khi học, điều này sẽ giúp bạn tập trung để nghe giáo viên giảng hơn là nghe loa ngoài.

Tự đặt ra kỉ luật cho chính bản thân mình ngay từ khi mới bắt đầu học. Có một điều rất quan trọng đối với một học sinh đó là tôn trọng giáo viên của mình. Bạn phải coi giáo viên là quý nhân đang truyền đạt kiến thức chứ không phải đối tượng mà mình đang bỏ tiền ra đi mua kiến thức. Hãy chấp hành tốt nội quy do giáo viên đề ra, giữ kỉ luật làm bài tập đầy đủ, chịu khó tự luyện tập thêm ở nhà nếu có thể. Giáo viên truyền đạt kiến thức tốt không có nghĩa là bạn sẽ học tốt, bản thân người học cũng cần phải cố gắng luyện tập mới có thể tiến bộ được.

Học trực tuyến có hiệu quả hơn việc học offline không?

Nhiều người lầm tưởng học offline vẫn là hiệu quả nhất. Thực tế, khi bạn đăng ký học trực tiếp tại trung tâm, một lớp học thường có từ 20 cho đến 50 học sinh. Bạn thử nghĩ xem, với số lượng học sinh đông như vậy, các giáo viên liệu có thể đủ tâm sức để sửa phát âm và sửa lỗi ngữ pháp cho từng người không? Ngoài ra, các yếu tố khác như thời tiết, xe cộ, giao thông, công việc phát sinh cũng sẽ ảnh hưởng tới việc học của bạn. Chỉ cần nghỉ một hai buổi học là kiến thức của bạn đã bị chậm hơn nhiều so với các bạn cùng lớp rồi.

Khi bạn học tiếng Trung trực tuyến, bạn có thể dễ dàng khắc phục những nhược điểm trên. Bạn có thể chủ động chọn những đơn vị đào tạo cam kết lớp học có ít học sinh. Một lớp học trực tuyến có hiệu quả tốt nhất nên có số lượng học sinh không quá 12 người. Một điều tiện lợi khác nữa là nếu bạn có việc bận và không thể tham gia học, bạn có thể yêu cầu giáo viên thu lại video buổi học ngày hôm đó và gửi cho bạn.

Học tiếng Trung online có làm giảm kĩ năng viết chữ Hán của mình không? Chữ Hán có cấu tạo từ các nét cơ bản và có quy tắc viết của nó. Giáo viên là người sẽ hướng dẫn cho bạn các nguyên tắc khi luyện viết và yêu cầu bạn thực hành. Cả hai hình thức học online và offline, giáo viên đều sẽ không thể cầm tay uốn nét cho bạn được, bạn cần tự luyện tập và thực hành để ghi nhớ.

Học tiếng Trung online ở đâu uy tín?

Bạn có thể đăng ký học tại website hoctiengtrung.online . Chúc các bạn học tập tốt và đạt được mục tiêu của mình nhé!

Sự tích những câu thành ngữ Trung Quốc

Thành ngữ Trung Quốc thường xuất phát từ những điển tích thú vị nào đó. Thành ngữ thường được sử dụng rộng rãi trong lời ăn tiếng nói hằng ngày cũng như trong sáng tác văn thơ trong văn học. Thành ngữ ngắn gọn, hàm súc, có tính hình tượng, biểu cảm cao. Hãy cùng tìm hiểu sự tích một số câu thành ngữ Trung Quốc kinh điển để giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cách sử dụng chúng cũng như hiểu thêm về ý nghĩa nhân sinh quan nhé!

Sự tích một số câu thành ngữ Trung Quốc

1.Thục năng khánh xảo (孰能轻巧:Trăm hay không bằng tay quen)

Xưa có một người tên Trần Khang Tiêu, hiệu Nghiêu Tư, bắn cung siêu việt, độc nhất vô nhị. Vì vậy, hắn rất tự đại và kiêu ngạo, thường tự khoe người khác về bản lĩnh phi thường của mình: “Bản lĩnh của ta không ai có thể bằng, các người ai dám đấu với ta đây?”

Thục năng khánh xảo (孰能轻巧:Trăm hay không bằng tay quen)

“Thuật bắn cung của sư phụ đúng là không ai có thể sánh nổi, quá thực quá cao minh, chúng con làm sao có thể đấu được với sư phụ!”… “Đúng vậy, chúng con vẫn cần nhờ sư phụ chỉ dạy thật nhiều, sư phụ biểu diễn lại cho chúng con xem đi, để chúng con học hỏi theo!”. Những học trò trẻ tuổi này vì muốn được Trần Khang Tiêu truyền dạy lại kỹ thuật bắn tên, nên ngày ngày kính cẩn lễ phép, nghĩ ra đủ mọi cách để nịnh nọt hắn.

Một hôm, Trần Khang Tiêu đang dạy đồ đệ luyện bắn cung trong sân, có một ông già bán dầu đi qua, liền dừng lại xem. Tiêu cầm cung lên bắn, cả mười mũi tên đều trúng hồng tâm, bách phát bách trúng. Đám đồ đệ xung quanh, người nào người nấy cũng đều vỗ tay không ngớt. Trần Khang Tiêu nhìn qua ông già với nét mặt vênh váo: “Ông thấy thế nào?”. Nhưng ông già chỉ lắc đầu nhẹ, nói: “Không ổn”.

Trần Khang Tiêu trong lòng khó chịu, lên giọng hỏi câu thách thức: “Này, ông già kia, ông có biết thế nào là bắn tên không?” Ông già liền nói: “Không biết!”. “Vậy là ta bắn không tốt?” – Tiêu hỏi.
Ông già đáp: “Tốt thì tốt, nhưng trình bắn tên này của ngươi cũng chỉ ở mức tầm thường, cũng chẳng phải là giỏi giang gì.”

“Lão già, ông có ý gì đây? Ông dám sỉ nhục sư phụ bọn ta vậy sao? Ông biết cung thuật của sư phụ ta là không ai sánh bằng hay không? Ông đúng là coi thường người khác quá rồi đấy.”

“Cậu thanh niên, cậu đừng giận dữ như vậy chứ! Những lời tôi nói đều là sự thật, cung thuật của sư phụ cậu quá đỗi bình thường, quả thực không có tí gì là hơn người.”

“Ông già, nghe ông nói như vậy thì chắc là người trong nghề, vậy ông thử lộ vài chiêu cho chúng tôi xem. Nếu không phục thì ta thi đấu, chỉ nói không làm thì được xem là bản lĩnh gì?”. “Tiểu huynh đệ, tôi không có bản lĩnh bắn cung, nhưng tôi sẽ đổ dầu cho mấy người xem.” Chúng đồ đệ bàn tán xôn xao: “Đổ dầu? Cái này mà lão già như ông cũng đem ra biểu diễn được à? Cái này ai mà chẳng biết! Thôi, ông đừng đùa nữa…!”. “Vậy mấy người xem đã rồi biết!”

Ông già nói xong, liền lấy một bình hồ lô để lên mặt đất, rồi để một đồng tiền hai mặt có lỗ lên miệng nắp hồ lô. Sau đó, ông lấy một thìa dầu, ngắm chuẩn, bắt đầu nghiêng thìa đổ vào. Dầu mà ông già đổ vào như những sợi dây nhỏ màu vàng, thông qua những đồng tiền xu rồi chảy vào trong hồ lô. Sau khi đổ xong, chẳng có giọt dầu nào dính lên đồng tiền.

Ông già khiêm tốn nhìn sang Trần Khang Tiêu, nói: “Đây chỉ là một vài kỹ thuật tầm thường mà thôi, cũng là cái đạo lý trăm hay không bằng tay quen! Trần Khang Tiêu nghe xong vô cùng hổ thẹn, từ đó ngày một chăm chỉ luyện tên hơn, cũng không bao giờ đi khoe khoang thuật bắn tên của mình nữa. Sau, kiếm thuật và nhân phẩm của Trần Khang Tiêu đã ngày một tốt hơn.

Xem thêm: Học tiếng Trung trực tuyến như nào cho hiệu quả?

2.Họa Long điểm tinh (画龙点睛:Vẽ mắt cho )

Tương truyền thời xưa có một họa sĩ tên Trương Tăng Dao, nổi tiếng nhất là họa Rồng.

Một lần, cậu ta vẽ bốn con rồng lớn trên bức tường của chùa An Lạc tại Kim Lăng (Nam Kinh hiện nay). Những con rồng được vẽ như ẩn như hiện, giống y như thật, chỉ là không có mắt. Người dân đều hỏi sao cậu ta không vẽ thêm đôi mắt, Trương nói: “Đôi mắt không phải muốn vẽ là vẽ được, nếu như vẽ rồi, thì rồng sẽ bay lên trời mất!”. Cậu ta nói xong, không ai tin, còn nghĩ cậu ta đang nói điêu lừa gạt bọn họ. Sau, vì không nhịn nổi người dân hết mực cầu xin, Trương Tăng Dao đành phải vẽ điểm lên đôi mắt rồng. Chuyện kỳ lạ quả nhiên đã xảy ra, trong khi cậu ta đang vẽ đôi mắt cho con rồng thứ hai, đột nhiên có trận gió lớn kéo đến, cùng với tiếng sét đánh, hai con rồng lớn chớp chớp đôi mắt, rồi lập tức cử động bay vụt lên trời. Người nào người nấy xem xong đều há mồm trợn mắt, không nói nên lời, chỉ biết giơ tay trỏ biểu hiện khâm phục Trương Tăng Dao.

Họa Long điểm tinh (画龙点睛:Vẽ rồng điểm mắt)

Từ đó, thông qua sự tích này, thành ngữ “vẽ mắt cho rồng” bắt đầu được xuất hiện. Thành ngữ này thường được dùng trong lúc vẽ, lúc nói,… trong những lúc quan trọng nói ra những lời cực kỳ xúc tích, hàm nghĩa, hay trong khi vẽ khiến bức tranh càng sinh động có hồn.


3.Ngu Công di sơn(愚公移山:“Ngu công dời núi”)

Truyền thuyết kể rằng, xưa có hai quả núi lớn: một núi tên “Núi Thái Hành” (太行山), một núi tên “Núi Vương Ốc”(王屋山). Ở phía bắc núi có một ông già gần 90 tuổi tên là Ngu Công. Mỗi khi ông muốn xuống núi, đều bị hai quả núi lớn này ngăn đường chặn lối. Ông phải đi một vòng dài quanh núi, mới sang được phía nam bên kia.

Một hôm, ông gọi cả nhà đến bàn chuyện, nói: “Cả nhà ta cùng dồn tâm hiệp lực, dùng hết tinh huyết cả đời để rời hai quả núi Thái Hành và Vương Ốc, để xây một con đường tới thẳng phía nam. Các con nghĩ sao?”

Mọi người đều tán thành lời nói của ông, nhưng bà vợ của Ngu Công lại đề xuất ra một câu hỏi: “Cả nhà chúng ta cho dù có dồn tâm hợp lực lại với nhau, đến cả quả núi nhỏ cũng không thể rời đi được, thì sao mà rời được cả hai quả núi lớn như Thái Hành và Ốc Sơn đây? Hơn nữa, cho dù có rời, thì đất đá mà đã đào được biết chuyển đi đâu?”

Ngu Công di sơn(愚公移山:“Ngu công dời núi”)

Sau khi thảo luận, mọi người còn nghĩ có thể rời đất đá chuyển sang bên biển phía đông và nơi xa nhất của phía bắc.

Sáng sớm hôm sau, Ngu Công gọi hết con cháu trong nhà bắt đầu vào công việc rời núi. Tuy rằng, mọi người trong nhà ngày qua ngày đào cũng không được là bao, nhưng họ vẫn luôn kiên trì đào. Cho đến khi đổi mùa, mới được về nhà một lần.

Có một người già tên Trí Sưu sau khi biết chuyện, đến khuyên Ngu Công nói: “Ông làm vậy thật không thông minh chút nào, với chút sức lực cỏn con này của ông thì làm sao có thể rời được hai quả núi lớn thế này chứ?”. Ngu Công đáp: “Con người ông quả thực rất chi ngoan cố, cho dù tôi có chết đi, thì vẫn còn con tôi ở đó. Con trai chết rồi thì con có cháu, cháu sinh con ra thì còn có chắt, chắt sinh ra con nữa, thì cháu cháu chắt chắt là nguồn sẽ không bao giờ cạn! Còn núi thì sẽ không cao lên được nữa, thì hỏi sao ta lại không rời được?”

Lúc đó, thần núi thấy cả nhà Ngu Công đào núi liên tục, liền lên thiên đình báo cáo sự việc này cho Thượng Đế. Thượng Đế cảm động với sự kiên trì của Ngu Công, liền phái hai lực thần hạ phàm, cõng hai quả núi đi. Từ đó, nhà của Ngu Công không còn bị hai ngọn núi làm cách trở nữa.

4.Phàn Lũng Phụ Phụng(攀龙附凤:bám rồng dựa phượng)

“Long”, “Phượng” trong thành ngữ này là chỉ những tên nịnh bợ, dựa dẫm vào những người có quyền có thế.

Thành ngữ này bắt nguồn từ “Hán Thư. Tự Truyện Hạ” (汉书.叙转下). Vị hoàng đế đầu tiên của Tây Hán – Lưu Bang, xuất thân từ một gia đình nhà nông, cha mẹ của ông đến cái tên cũng không có. Lưu Bang tên thật là Quý, ý là “Lão Tam” (người con thứ ba). Cho đến khi làm hoàng đế, mới đổi tên thành Bang.

Lúc Lưu Bang ba mươi tuổi, đã từng làm tiểu sứ thôn quê – đình trưởng của huyện Phối thời triều Tần. Lưu Bang là người độ lượng, phóng khoáng, làm việc rất có khí chất, được nhiều người yêu quý. Tiêu Hòa, Phan Hội, Hạ Hầu Anh…đều là bạn thân của Lưu Bang lúc đó. Những người này sau cũng vì Lưu Bang mà dốc sức cho triều đình.

Phan Hội là đồng hương của Lưu Bang, làm nghề bán thịt chó. Sau khi Trần Thắng, Ngô Quảng nổi binh khởi nghĩa, huyện lệnh của huyện Phối vô cùng sợ hãi, định nhân cơ hội khởi nghĩa hưởng ứng với Trần Thắng, liền báo với Phan Hội nhờ Lưu Bang đến giúp đỡ. Không ngờ khi Lưu Bang mang mấy trăm người đến, huyện lệnh lại hối hận. Vì vậy Lưu Bang thuyết phục người trong làng ám sát huyện lệnh, thống lĩnh hai- ba ngàn người nổi binh công thành.

Lưu Bang và Hạ Hầu Anh sớm đã có giao tình, anh ta trước đây vốn là mã phu của huyện nha, mỗi lần phụng mệnh kéo xe cho đại sứ triều đình về, đều phải ghé qua chỗ Lưu Bang, tám chuyện với nhau rất lâu, đến khi mặt trời lặn mới chịu đi. Sau đó, Hạ Hầu Anh lên làm huyện sứ, qua lại với Lưu Bang càng mật thiết hơn. Một hôm, trong lúc nô đùa, Lưu Bang không cẩn thận làm Hạ Hầy Anh bị thương. Có người kiện Lưu Bang thân làm đình trưởng, ra tay đánh người, nên phạt nặng làm gương. Hạ Hầu Anh lập tức giải thích cho Bang, không ngờ lại bị cho là ngụy tạo chứng cứ bắt vào ngục, một năm trong tù. Sau này, Lưu Bang khởi binh, Hạ Hầu Anh và Phan Hội chủ động tham dự, được phong làm bộ tướng.

Sau, Lưu Bang ngày càng phát triển, lại có thêm một người tên Quán Anh đến nhờ cậy Lưu Bang, vốn chỉ là một thương nhân mua bán vải thông thường. Sau này, Quán Anh trở thành tâm phúc cho Lưu Bang, lĩnh binh khởi nghĩa khắp nơi, lập không ít chiến công.

Năm 208 trước công nguyên, Lưu Bang quyết định họp quân khởi nghĩa, đem quân tiến đánh vào Tần đô Hàm Dương. Đầu năm thứ hai, đội quân Lưu Bang đóng quân ở ngoại giao thành, ở đó có một tiểu sứ tên Lệ Thực Kỳ đến hiến kế. Lệ nói với Bang: “Hiện giờ đội quân của người không đến vạn, lại thiếu sự huấn luyện, muốn tiến công Tần thành, như nhảy vào miệng cọp. Chi bằng, hãy đánh chiếm Trần Lưu trước? Ta ở đó chiêu binh mãi mã, đợi khi nào quân hùng thế mạnh, hẵng chiếm thiên hạ cũng chưa muộn!” Lệ còn nói là có giao tình cũ với huyện lệnh Trần Lưu, chi bằng cho Lệ đi khuyên Trần đầu hàng, nếu Trần không hàng thì mới giết.”

Lưu Bang nghe xong thấy ổn, Lệ Thực Kỳ chạy ngựa ngày đêm vào thành khuyên nhủ huyện lệnh, nhưng huyện lệnh không chịu khởi nghĩa. Vì vậy, Lệ đành đến đêm chặt đầu huyện lệnh mang đến cho Lưu Bang. Ngày thứ hai, khi Lưu Bang công thành, lấy đầu huyện lệnh treo trên trước tường thành, kết quả người thủ thành liền lập tức đầu hàng. Tại Trần Lưu, Lưu Bang bổ sung rất nhiều lương thực và binh lính và vũ khí.

Sau đó, Lệ Thực Kỳ lại tiến cử người em trí dũng song toàn – Lệ Thương cho Lưu Bang, Lệ Thương lại đem 4000 quân cho Bang, liền được nhận lệnh làm phó tướng, đem binh công đánh Khai Phong. Sau, Lưu Bang còn đánh thắng Hạng Vũ, lên ngôi hoàng đế vào năm 202 trước công nguyên, kiến lập vương triều Tây Hán.

Sau khi lên ngôi hoàng đế, Lưu Bang sắc phong cho những đại công thần khai quốc: Phan Hội, Hạ Hầu Anh, Quán Anh, Lệ Thương…được phong làm Vũ Dương Hầu, Đương Nhũ m Hầu, Dĩnh m Hầu và Khúc Châu Hầu…

5.Tam Cố Mao Lư (三顾茅庐:Ba lần đến lều tranh)

Cuối thời Đông Hán, Gia Cát Lượng đến ở ngôi nhà tranh(茅庐:Mao Lư) tại Long Trung.

Mưu sĩ Từ Thứ(徐庶)tiến cử với Lưu Bị nói: “Gia Cát Lượng là một kỳ tài!”. Lưu Bị vì muốn mời Gia Cát Lượng làm quân sư trợ mình đánh chiếm thiên hạ, liền cùng Trương Phi, Quan Vũ đích thân đi mời Gia Cát Lượng xuất núi. Nhưng đúng lúc Gia Cát Lượng lại không có nhà, chỉ đành để lại tên tuổi, rồi vui vẻ đi về. Cách vài ngày, Lưu Bị nghe ngóng được Gia Cát Lượng đã quay trở về, lại đem theo Quan Vũ, Trương Phi đối mặt với bão tuyết đến mời Lượng về. Nào ngờ, Gia Cát Lượng lại ra ngoài rồi, bọn họ đành phải tay không đi về.

Tam Cố Mao Lư (三顾茅庐:Ba lần đến lều tranh)

Lần thứ ba Lưu Bị đến Long Trung, cuối cùng thì cũng gặp được Gia Cát Lượng. Trong cuộc đàm thoại, Lưu Bị thấy Gia Cát Lượng vô cùng tinh thông tình thế thiên hạ lúc bấy giờ, ông vô cùng thán phục.

Lưu bị ba lần đến mời, khiến Gia Cát Lượng vô cùng cảm động, đồng ý xuất sơn tương trợ. Lưu Bị tôn Gia Cát Lượng lên làm quân sư, và nói với Trương Phi, Quan Vũ: “Ngã chi hữu Khổng Minh, du ngư chi hữu thủy dã!”(我之有孔明,犹鱼之有水也), ý là “Ta có Khổng Minh, giống như cá có nước!”

Gia Cát Lượng vừa xuất núi, đã giúp cho Lưu Bị đánh thắng không ít trận, vì Lưu bị mà tạo dựng nền móng cho nước Thục Hán.

Thành ngữ “Tam Cố Mao Lư” từ đó mà có! Ý chỉ sự chân thành, khẩn khoản, năm lần bảy lượt phải mời cho bằng được.

Biên tập: Nguyễn Bích Việt Anh

Truyền thuyết về Thương Sơn Nhĩ Hải

Truyền thuyết là một thể loại văn học dân gian, thường có yếu tố tưởng tượng kì ảo, các nhân vật, sự kiện đều liên quan đến lịch sử, là những truyện truyền miệng kể lại truyện tích các nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong cảnh địa phương theo quan niệm của nhân dân.

Trong truyền thuyết đã phản ánh những văn hóa nội hàm của người bản địa, chất chứa đầy những tưởng tượng, màu sắc của chủ nghĩa lãng mạn của con người đối với sự việc chưa biết.

Tự cổ chí kim, từ xã hội phương tây đến xã hội phương đông, không nơi nào là không có một vài câu truyện truyền thuyết.

Tại Trung Quốc, những câu truyện truyền thuyết bí ẩn đó lại là thành phần quan trọng để góp phần tạo dựng nên văn hóa dân gian. Từ Nữ Oa vá trời đến Tinh Vệ Điền Hải; Kuafu đuổi theo mặt trời…từ những mảnh ghép của các câu chuyện thần thoại hội tụ thành một bản văn chương hoàn chỉnh, hình thành nên một nét văn hóa độc đáo riêng.

Phần lớn những câu truyện truyền thuyết đều được gắn kết với các kỳ quan thiên nhiên. Còn ở Đại Lý, cũng có nhiều truyền thuyết đặc sắc riêng biệt của nó, và những câu chuyện đó đều có liên quan tới cảnh sắc thiên nhiên hoặc những mùa màng cụ thể.

Hồ Nhĩ Hải
Hồ Nhĩ Hải – Ảnh: Baidu

Truyền thuyết Đại Lý – Áng mây trời

Những áng mây của Đại Lý điểm xuyết lên bầu trời xanh biếc, tạo thành những bức tranh phong cảnh thoát tục mà mỹ lệ.

Các hình dáng, màu sắc ấy lại là phong cảnh rực rỡ nhất của Đại Lý! Bí ẩn khó đoán, biến đổi bất định, thay đổi khác thường,…

Ở eo núi hoặc đỉnh núi của Thương Sơn Đại Lý, đều có những cảnh tượng kỳ lạ liên quan đến những đám mây xuất hiện, thường được con người nhìn thấy hoặc được nhiếp ảnh gia bắt gặp.

Hai kỳ cảnh này thường xuất hiện tại eo “Ngọc Đới Vân” của núi Thương Sơn và trên đỉnh “Vọng Phu Vân” của Ngọc Cục Phong, đều mang trong mình những câu chuyện về tình yêu thê lương, được nhiều tài liệu lịch sử ghi chép lại.

Thương Sơn và Hồ Nhĩ Hải
Thương Sơn và Hồ Nhĩ Hải – Ảnh: Baidu

Trong “Đại Lý Phủ Chí” (大理府志)có ghi chép về eo Ngọc Đới Vân: “Điểm xuyết mùa hạ, thường có những áng mây phủ quanh eo núi, trải quanh mười eo chín đỉnh, ước chừng trăm dặm, giống như một chiếc đai lưng. Có vị thi nhân từng nói “Thiên tướng Ngọc Đới phong sơn công” (天将玉带封山公), ý chỉ những đám mây hùng vĩ của eo Ngọc Đới núi Thương Sơn giống như được chính tay trời đất tạo dựng nên.

Còn về Ngọc Phu Vân, trong “Đại Lý Huyện Chí Cảo” (大理县志稿) có ghi: Truyền thuyết kể rằng, thời nhà họ Mông, có một nữ nhân kỳ lạ sống ở đỉnh Ngọc Cục Phong, vì thương nhớ chồng….sau tinh khí hóa thành mây, nên có tên “Vọng Phu Vân”.

Ngọc Đới Vân

Ngọc Đới Vân thường xuất hiện vào cuối mùa hạ, đầu mùa thu. Sau một cơn mưa lớn, thời tiết trên núi Thương Sơn dần chuyển sang trong lành. Lúc này, eo Thập Cửu Phong của núi Thương Sơn xuất hiện một đới vân dài hơn chục ki-lô-mét, đới vân này có một tên gọi rất đẹp – có tên “Ngọc Đới Vân”.

Ngọc Đới Vân trôi nổi linh động, như một lớp voan trắng quấn quanh eo núi Thương Sơn, mềm mại, quyến rũ, chỉ cần tận mắt nhìn thấy kỳ cảnh này sẽ khiến ta khó lòng mà quên được.

Tại Đại Lý, Ngọc Đới Vân xuất hiện tượng trưng cho sự bội thu. trong ngạn ngữ (谚语)của người dân tộc Bạch có câu: “Thương Sơn hệ Ngọc Đới, ngã cẩu cật bạch mễ” (苍山系玉带,饿狗吃白米)ý chỉ “Thương Sơn xuất hiện Ngọc Đới, chó đói được ăn cơm trắng”. Đến nay, ở Đại Lý vẫn xuất hiện rất nhiều lời đồn liên quan đến truyền thuyết của Ngọc Đới Vân.

Ngọc Đới Vân
Ngọc Đới Vân – Ảnh: Baidu

Tương truyền, diện mạo tuấn tú của Thương Sơn và Nhĩ Hải đã thu hút được cô nương Phượng Hoàng. Vì vậy, cô đã kể lại cho Ngọc Nữ- tiên nữ chuyên dệt vân gấm ngũ sắc cho Vương Mẫu nương nương về cảnh sắc của Thương Sơn Thập Cửu Phong và Thập Bát Khê mà cô đã tận mắt nhìn thấy.

Ngọc Nữ vô cùng hứng thú với cảnh sắc của Thương Sơn Thập Cửu Phong cùng với Thập Bát Khê, vì vậy cô đã xin Vương Mẫu nương nương cho phép cô hạ phàm tham quan. Sau khi được sự đồng ý của Vương Mẫu, Ngọc Nữ cùng Phượng Hoàng bay đến giữa biển Thương Sơn Nhĩ Hải, rồi dần từ đỉnh Thương Sơn bay xuống vùng eo núi, để tiện việc quan sát cảnh đẹp.

Một ngày nọ, Ngọc Nữ và Phượng Hoàng đến Ẩn Tiên Khê gội đầu, gặp được một chàng trai làm quặng đột nhiên ngất xỉu bên đường.

Thì ra chàng trai tên Bạch Lang, mồ côi cha mẹ, anh trai vì nghe lời thúi giục của vợ mình mà đuổi chàng ra khỏi nhà. Bạch Lang không nơi để về, chỉ có thể ở trên núi lấy quặng.

Sau khi Ngọc Nữ biết được cảnh ngộ của Bạch Lang, cô vô cùng đồng cảm với chàng, bèn nảy sinh lòng mến mộ, không lâu sau liền gả cho chàng.

Sau khi hai người thành thân, Ngọc Nữ và Bạch Lang cùng nhau lên núi đào quặng. Cô đào đến đâu, đá đều được chuyển thành ngọc! Nhưng cô không nói cho Bạch Lang nguyên nhân, rồi để bà con láng giềng cùng lên núi đào quặng. Dưới sự giúp đỡ của Ngọc Nữ, cuộc sống của mọi người ngày càng tốt lên.

Thời gian thoi đưa, đã đến lúc Ngọc Nữ phải trở về thiên đình, cô và Bạch Lang đều luyến tiếc không nỡ. Đến lúc chia tay, Bạch Lang nắm chặt dây đai ngũ sắc không buông, nhưng Ngọc Nữ vẫn phải rời đi. Dây đai ngũ sắc trong tay Bạch Lang lập tức biến thành một đường vân đới dài dằng dặc, quấn quanh eo núi Thương Sơn.

Từ đó về sau, mỗi năm cứ đến cuối hạ đầu thu, đều sẽ xuất hiện Ngọc Đới Vân, còn quặng đá năm đó Ngọc Nữ đã từng đào đều chuyển thành màu mực, mọi người đều gọi nó là “Ngọc Nữ Thạch” (玉女石: Đá Ngọc Nữ ), cũng chính là Đại Lý Thạch(大理石) vang danh thiên hạ.

Liên quan đến truyền thuyết về Ngọc Đới Vân, vẫn còn một phiên bản khác, bản này có liên quan đến Long Nữ.

ngọc đới vân
Con đường tham quan Ngọc Đới Vân – Ảnh: Baidu

Tương truyền, trên núi Thương Sơn có một cặp vợ chồng là Long Công và Long Mẫu sinh sống ở đó, bọn họ có bảy cô con gái xinh đẹp. Bảy cô con gái thường hay tắm gội ở dòng thác phía trong núi.

Cứ đến lúc bảy vị Long Nữ đến đó tắm giặt, thì Ngọc Đới Vân sẽ đều xuất hiện. Nghe đồn Vân Đới đó chính là thắt lưng của bảy vị Long Nữ biến hóa mà thành.

Đến nay, con đường được kiến tạo tại lưng núi Thương Sơn dài tận 11,5 nghìn mét, được gọi là “Con đường tham quan Ngọc Đới Vân” (玉带云游路).

Con đường này không khí trong lành, hoàn cảnh dễ chịu, cảnh sắc tuyệt đẹp, mỗi năm đều có rất nhiều du khách nghe danh mà đến.

Vọng Phu Vân

Ngọc Đới Vân thường xuất hiện vào mùa hạ thu, còn Vọng Phu Vân thường xuất hiện vào mùa đông xuân, chủ yếu xuất hiện vào đỉnh Ngọc Cục Phong của Thập Cửu Phong núi Thương Sơn.

Trong lúc “Vọng Phu Vân” xuất hiện, biển Nhĩ Hải sẽ xuất hiện một vài hiện tượng kỳ lạ. Biển Nhĩ Hải vốn là một nơi sóng yên biển lặng đột nhiên nổi lên từng đợt sóng vỗ, ngay cả thuyền đánh cá cũng không được đến biển Nhĩ Hải đánh bắt cá. Vì vậy, “Vọng Phu Vân” còn được gọi là “Vô Độ Vân” (无渡云).

vọng phu vân
Vọng phu vân – Ảnh: Baidu

Có thể nói truyền thuyết về Vọng Phu Vân, các nhà các hộ sinh sống ở Đại Lý là không ai không biết. 

Tương truyền, Nam Triệu Vương có một vị công chúa vông cùng xinh đẹp. Công chúa dù đã lớn nhưng vẫn chưa muốn thành thân. Các vương công quý tử tranh nhau đến cầu thân, công chúa cũng không để ý đến ai. 

Sau, trong khi công chúa tham gia hội Tam Linh quen biết một chàng thợ săn. Chàng thợ săn có vóc dáng khôi ngô, tuấn tú, công chúa vừa gặp đã yêu. Nhưng vì địa vị chênh nhau quá xa, bèn nhận được sự phản đối kịch liệt của quốc vương.

Công chúa và thợ săn, trải qua trùng trùng trở ngại, thề non hẹn biện, ước định cả đời, rồi trốn lên đỉnh Ngọc Cục Phong của núi Thương Sơn, sống một cuộc đời hạnh phúc, mỹ mãn.

Nhưng tiệc vui chóng tàn, sau khi quốc vương biết được liền mời pháp sư La Thuyên của chùa La Thuyên làm phép, khiến cho đỉnh Ngọc Cục Phong tuyết rơi dày đặc. Thợ săn vì để chống rét cho công chúa, liền mạo hiểm đến chùa La Thuyên trộm cắp bát bảo cà sa chống rét. Sau khi bị phát hiền, chàng liền bị La Thuyên đánh xuống biển Nhĩ Hải biến thành ốc đá. 

Công chúa ở Ngọc Cục Phong mòn mỏi chờ chàng, thợ săn không về. Lúc này, tin tức chàng gặp chuyện đến tai công chúa. Sau, nàng vì đau buồn quá độ mà chết.

Sau khi nàng chết, tinh khí của nàng hóa thành mây trắng, còn đám mây này từ khi xuất hiện không hề rời rạc, phân tán. Giống hệt như khi công chúa uất ức đau buồn mà xa rời trần thế. Lúc này tại biển Nhĩ Hải sóng vỗ điên cuồng, có người nói công chúa vì để thổi bay nước biển chỉ để có thể nhìn thấy được một lần người tình của mình đang nằm ngủ sâu dưới đáy biển.

Truyền thuyết Đại Lý – Sơn Thủy Thiên(山水篇)

Núi non là cái đặc sắc của vùng Đại Lý. Còn nước và núi của Đại Lý lại không thể tách rời nhau. Ở đâu có nước ở đó ắt sẽ chảy vào núi. Cái không thể nhắc tới tại vùng Đại Lý này chắc chắn là Thương Sơn.

Những điểm đến du lịch như: Thanh Bích Khê, Tẩy Mã Đàm, Thất Long Nữ Trì hay suối Hồ Điệp dưới chân núi, tất cả đều có liên quan đến núi Thương Sơn.

Thời xưa, Đại Lý được gọi là “Diệp Du”(叶榆). Bởi vì nhiều nước lũ, nên truyền thuyết liên quan tới nước cũng vô cùng nhiều.

Thanh Bích Khê(青碧溪)

Thanh Bích Khê – Một trong mười tám dòng suối của Thương Sơn.

Tương truyền, từ thời xa xưa, Đại Lý gặp phải nhiều nước lũ, con người vì để cai quản nước lũ, nên đã lập tượng Quan Âm bên Thanh Bích Khê, dùng để trấn áp lũ lụt hung bạo.

Thanh Bích Khê
Thanh Bích Khê – Ảnh: Baidu

Không biết từ năm nào, Đại Lý mưa lớn không ngừng, nước lũ cuốn trôi nhà cửa, đền chùa, còn cuốn cả tượng Quan Âm của Thanh Bích Khê xuống giữa biển Nhĩ Hải.

Từ đó, nhân dân lo lắng lũ lụt sẽ lần nữa tái diễn, làm nguy hại đến Đại Lý, liền khắc lên vách đá của Thanh Bích Khê hai chữ “Vũ Huyệt”(禹穴). Đại Vũ là anh hùng cai trị nước lũ của cổ đại Trung Quốc. Nhân dân vì muốn mượn sức mạnh của người, để người dân vùng Đại Lý sẽ không phải khốn khổ sống cùng với lũ.

Về sau, người dân tiếp tục xây lại tượng Quan Âm. Hiện nay, dưới đầm của Thanh Bích Khê vẫn luôn sừng sững một tượng Quan Âm ở đó.

Tẩy Mã Đàm

Tẩy Mã Đàm – một trong những ao hồ cao nhất của Thương Sơn so với độ cao mặt nước biển, đồng thời còn là nơi ngắm tuyết đẹp nhất của núi Thương Sơn.

Tẩy Mã Đàm có độ sâu 1,5 mét, diện tích ước tính 4500 mét vuông. 

Tẩy Mã Đàm
Tẩy Mã Đàm – Ảnh: Baidu

Theo ghi chép, Tẩy Mã Đàm thời cổ có tên “Cao Hà”(高河), là công trình thủy lợi từ thời Đường Nam Triệu quốc. Thời Nam Triệu thịnh thế, Nam Triệu Vương cử Thịnh Quân tướng quân tại nơi này xây dựng đập chứa nước, tiện dẫn nước vào đồng ruộng.

Tương truyền, vào thời Đại Lý quốc, Hốt Tất Liệt dẫn quân nam chinh Đại Lý, đại quân từng đóng quân tắm ngựa trên đỉnh núi, sau công đánh vào thành Dương Tô Mị(羊苴咩) nước Đại Lý. Từ đó, hồ này có tên “Tẩy Mã Đàm” (đầm tắm cho ngựa).

Mỗi năm cứ đến giao mùa xuân hạ, những bông hoa đỗ quyên với  nhiều màu sắc: hồng, trắng, đỏ, vàng thi nhau đua sắc, xung quanh hồ màu sắc rực rỡ vô cùng. Những cây linh sam, đỗ quyên len lách giữa các vách núi, cực kỳ tráng lệ.

Đến mùa thu đông, sau một trận tuyết lớn, Tẩy Mã Đàm tràn ngập trong tuyết, khiến người khác vừa nhìn đã say đắm không ngơi.

Thất Long Nữ Trì (七龙女池)

Hồ Thất Long Nữ với Thanh Bích Khê không khác là mấy, cùng thuộc 18 đầm núi Thương Sơn, cũng là một thác nước to gần như bậc nhất Thương Sơn, với bảy con suối hợp lại mà thành.

Các đầm của Thương Sơn đa phần đều có liên quan đến “rồng”, đại bộ phận các đầm của núi này thường lấy tên “Long” mệnh danh, như: Hắc Long Đàm(黑龙潭), Hoàng Long Đàm(黄龙谭), Song Long Đàm(双龙谭),…

Truyền thuyết kể rằng, Thất Long Nữ Trì là nơi tắm giặt của bảy vị Long Nữ, còn cứ mỗi năm đến lúc cuối hạ, các vị Long Nữ đều sẽ đến đây tắm giặt, đến khi trời sáng mới về Long Cung.

Con gái lớn vóc dáng to lớn, vì vậy sẽ chọn một long đầm có diện tích to nhất, còn các chị em khác sẽ dựa vào độ tuổi và dáng hình để chọn một long đầm thích hợp.

Thất Long nữ là cô con gái nhỏ tuổi nhất, thường hay ngại ngùng, nên đã chọn nơi sâu nhất, tối nhất để tắm, người thường khó mà tìm được.

Từ đó về sau, người dân liền lấy chiếc hồ mà bảy vị Long Nữ đã từng tắm đặt tên “Thất Long Nữ Trì”.

Hồ này bốn mùa nước chảy siết không nguôi, nước hồ trong sạch thấy đáy. Trong đầm mỗi nơi một vẻ: nơi nước chảy uốn lượn nhẹ nhàng, nơi hội tụ thành những đập nước bão bùng.

Thất Long Nữ Trì
Thất Long Nữ Trì – Ảnh: Baidu

Đầm Thất Long Nữ xung quanh đều có những hòn đá cao to che chắn, từ “Nhất Long Trì” đến “Thất Long Trì”, mực nước càng sâu, thì diện tích đầm càng nhỏ. Cảnh sắc mỗi đầm đều có một vẻ đẹp, độ tinh tế riêng.

Đầm Thất Long, màu nước khác biệt hơn với các đầm khác, đã hiện lên một vẻ đẹp toàn diện: Kỳ, sắc, thanh, u…

Suối Hồ Điệp( 蝴蝶泉)

Truyền thuyết liên quan đến suối Hồ Điệp cũng rất được nhiều người biết đến. Những truyền thuyết liên quan này, có thể nói là bản sao của phiên bản “Lương Sơn Bá và Chúc Anh Đài” của Bạch tộc.

Tương truyền, Hồ Điệp Tuyền trước đây có tên là “Đầm Vô Đáy”(无底潭). Ở một thôn làng cách đầm này không xa, có một cô nương tên là Văn Cô, người tộc Bạch. Còn trên Vân Lộng Phong (云弄峰)có một chàng thanh niên tên Hà Lang, hai người cảm mến lẫn nhau.

suối Hồ Điệp
Suối Hồ Điệp – Ảnh: Baidu

Một ngày nọ, có một ác bá trong làng thấy Văn Cô xinh đẹp như tiên, liền nảy lòng tà ác, muốn chiếm Văn Cô làm của riêng mình, liền phái người bắt cóc Văn Cô. Sau khi Hà Lang biết chuyện liền chạy đến cứu nàng, nhưng không may bị phát hiện. Hai người chạy trốn một quãng đường dài, cuối cùng chạy đến Đầm Vô Đáy.

Hà Lang và Văn cô thấy phía sau có quân lính đuổi theo, phía trước đã đi vào đường cụt, liền nắm tay nhau cùng nhảy xuống đầm. Ngay lập tức, trước đầm xuất hiện một đôi bươm bướm đang bay lượn xung quanh, còn dưới lòng Đầm Vô Đáy cũng sớm đã không còn thi thể của Văn Cô và Hà Lang.

Từ đó, người đời liền đổi tên “Đầm Vô Đáy” thành “Hồ Điệp Tuyền”. Vì để ngợi ca vẻ đẹp trung trinh, tình yêu khát khao tự do mãnh liệt, nhân dân đã lấy ngày mà Văn Cô và Hà Lang cùng nhảy xuống đầm – ngày 15 tháng 4 âm lịch hàng năm mở Hội Hồ Điệp (蝴蝶会), và cũng chính là ngày lễ tình nhân của người tộc Bạch.

Tất cả những truyền thuyết thần thoại của Đại Lý, đều phản ánh sự phản kháng của con người đối với thế tục. Niềm khát khao cuộc sống tự do, hạnh phúc. Từ nghìn năm nay, nó đã sớm trở thành một bộ phận văn hóa của vùng Đại Lý.

Sự bí ẩn nằm trong truyền thuyết cùng với những điều thú vị ẩn dấu trong đó cũng đã thu hút rất nhiều khách du lịch đến với thành phố này. Từ tìm hiểu, rồi đến yêu say đắm nơi đây!

Hi vọng bài viết sẽ giúp ích được cho bạn trước hành trình du lịch Trung Quốc của mình.

Nguồn: Baidu

Biên dịch và biên tập: Nguyễn Bích Việt Anh

Tết Trùng Dương – Lễ tết truyền thống Trung Quốc

Tiết Trùng Dương – tết Trùng Dương, là lễ tết truyền thống của Trung Quốc, theo phong tục của người Trung Quốc, tết này vào ngày mùng 9 tháng 9 âm lịch hàng năm. Số “chín” trong Dịch Kinh (易经)được coi là con số dương, “cửu cửu” (九:Chín)hai con số dương trùng nhau, gọi là “trùng dương” (重阳). Bởi do ngày và tháng đều lặp lại con số “chín”, nên còn có một tên gọi khác là “Trùng Cửu” (重九). Cửu cửu quy chân, nhất nguyên triệu thủy (九九归真,一元肇始:Số chín gặp nhau, một năm bắt đầu. Cổ nhân cho rằng, cửu cửu trùng dương là ngày ngày lành tháng tốt, là ngày may mắn. Thời xưa mỗi khi tết trùng dương đến, trong dân gian thường có tục lệ lên cao cầu phúc, thưởng thu ngắm cúc, lấy thù du cho vào túi thơm đeo lên người (nhằm tránh tà đuổi quỷ). Không chỉ vậy, trong ngày này còn có tập tục bái thần tế tổ, đãi yến cầu phúc. Đến nay, lên cao ngắm thu và cảm tạ kính lão là hai hoạt động chính trong tết trùng dương. 

Tết Trùng Dương

Tiết Trùng Dương có nguồn gốc từ việc sùng bái thiên tượng, bắt nguồn từ thời thượng cổ, phổ cập từ thời Tây Hán và hưng thịnh vào sau thời Đường. Theo ghi chép lịch sử, vào thời thượng cổ thường hay cử hành lễ tế trời, tế tổ vào quý thu. Trong [Lữ Thị Xuân Thu. Quý Thu Kỷ ] (吕氏春秋.季秋纪)có ghi lại, người xưa vào mỗi phùng tháng chín nông lịch đều cử hành những hoạt động như lễ tế tạ thu, tế thiên đế, tế tổ, dĩ tạ thiên đế cùng với những ân đức to lớn của tổ tiên. Đây là hình thức tế bái ban đầu được tồn tại trong tiết trùng dương. Tiết Trùng Dương, Trù Tịch, Thanh Minh cùng với tiết Vu Lan được coi là tứ đại lễ tế của văn hóa Trung Quốc truyền thống.

Dân gian quan niệm, số “chín” là số to nhất trong tất cả các con số đếm, có hàm ý trường thọ trường cửu, gửi gắm những lời chúc mạnh khỏe, trường thọ của mọi người đến với người già trong gia đình. Ngày 20 tháng năm năm 2006, tiết Trùng Dương được Quốc vụ viện Trung Quốc liệt vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. 

Năm 2012, hội thường ủy thông qua “Luật bảo vệ người già tuổi nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa” quy định, vào ngày 9 tháng 9 âm lịch hàng năm được đặt làm tết người già.

Tên tiếng Việt: Tiết Trùng Dương

Tên tiếng Trung: 重阳节

Tên tiếng Anh: Double Ninth Festival

Tên gọi khác: Tết người già, tiết Trùng Cửu, tiết Đăng Cao, tiết Tế Tổ, tiết Song Cửu…

Thời gian: Mùng 9 tháng 9 âm lịch

Cử hành bởi: Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc và các khu phố người hoa trên thế giới.

Hoạt động ngày tết: Leo núi ngắm thu, mở tiệc kính lão, thưởng cúc,…

Đồ ăn ngày tết: Bánh Trùng Dương, rượu Hoa Cúc…

Ý nghĩa ngày tết: Kính lão đức thọ, đãi tiệc cầu phúc,…

Bắt nguồn: Thời kỳ thượng cổ

Ngụ ý: Nhất nguyên triệu thủy, trường cửu trường thọ

tết trùng dương

Nguồn gốc tết Trùng Dương

Dân gian lưu truyền rất nhiều điển tích về ngày tết Trùng Dương này.

<< Điển tích 1 >>

Tương truyền vào đời Hậu Hán, ở sông Nhữ xuất hiện một loại bệnh dịch. Có một vị thanh niên trẻ tuổi tên Hằng Cảnh, chỉ vì ổ dịch tả đó mà đã cướp đi sinh mạng của cha mẹ Cảnh, đến ngay cả anh cũng suýt mất mạng vì căn bệnh này. Sau khi khỏi bệnh, Cảnh từ biệt người yêu và bà con láng giềng, quyết tâm theo học đạo tiên, vì dân trừ hại, tiêu diệt ôn dịch. Đi nghe ngóng khắp nơi, cuối cùng anh cũng tìm được phía trên dãy Đông Phương có một ngọn núi cổ, trên núi có một đạo trưởng pháp thuật vô biên tên Phí Trường Phòng. Sự quyết tâm của Hằng Cảnh đã khiến đạo trưởng vô cùng cảm động, cuối cùng cũng giữ lại Cảnh và chỉ dạy kiếm thuật trừ yêu cho anh. Hằng Cảnh  ngày đêm quên ăn quên ngủ, chỉ để luyện ra một võ nghệ phi phàm. Một hôm, đạo trưởng bảo Cảnh: “Ngày mai là ngày mùng chín tháng chín, ôn dịch sẽ lại ra ngoài tác quái, bản lĩnh của ngươi đã học thành, ngươi nên trở về trừ hại cho dân rồi!”. Nói xong, đạo trưởng liền đưa túi đựng hột thù du cùng với rượu hoa cúc và truyền lại cách tránh tà, cho Cảnh cưỡi tiên Hạc trở về. 

Sau khi trở về quê hương, vào buổi sáng ngày mùng chín tháng chín,  Hằng Cảnh dẫn bà con lên núi lánh nạn, theo lời đạo trưởng phát cho mỗi người một hột thù du, một ngụm rượu cúc hoa. Đến giữa trưa, ôn dịch xông ra sông Nhữ, đột nhiên ngửi thấy mùi rượu hoa cúc cùng với mùi hương thù du kỳ lạ, bèn không dám đến gần nữa. Lúc này, Hằng Cảnh tay cầm thanh kiếm trừ yêu đuổi theo dưới tận chân núi, đánh được mấy hồi liền hạ gục được ôn dịch. Vì để kỷ niệm tích trên, cứ đến ngày mùng 9 tháng chín, người ta lại bỏ nhà lên núi, lâu đời thành tục gọi là tết Trùng Cửu. Sau dần thay đổi tính chất, cứ mỗi phùng tết đến, các tao nhân mặc khách lại lên núi uống rượu làm thơ. 

<< Điển tích 2 >>

Đến thời kỳ Ngụy Tấn – Nam Bắc Triều, tiết Trùng Dương đã được hội nập vào dân gian. Trong “Phong Thổ Kỷ” (风土记) có ghi chép:

 “Dĩ trùng dương tương hội     

   Đăng sơn ẩm tửu

   Vị đăng cao hội

   Hữu danh thù du hội”

(以重阳相会,登山饮酒,谓登高会,又名茱萸会)

“Gặp ngày trùng cửu đăng cao, lên núi uống rượu, say sưa ngâm vịnh, có tên hội thù du”

Cuối đời nhà Hạ, vua Kiệt dâm bạo tàn ác, Thượng đế vì muốn răn đe nhà vua nên đã vào ngày mùng chín tháng chín giáng trận thủy tai xuống hạ giới, nhà cửa khắp nơi chìm ngập biển nước, nhân dân chết đuối, thây nổi đầy sông. Vì lo sợ, cứ mỗi năm đến ngày này, nhân dân già trẻ trai gái đều đua nhau lên núi tránh nạn. Từ đó, vào ngày này hàng năm, người người leo núi, đã sớm thành lệ. 

Ăn bánh Trùng Dương

Theo ghi chép lịch sử, bánh Trùng Dương còn được gọi bánh hoa(花糕), bánh cúc(菊糕), bánh ngũ sắc(五色糕). Cách làm bánh này có nhiều kiểu, có chút tùy ý. Vào mỗi buổi sáng của mùng chín tháng chín, cha mẹ lấy miếng bánh dính lên trán con cái, trong miệng lẩm bẩm niệm “Nguyện chúc con cái vạn sự thuận buồm xuôi gió”. Đây chính là ý nghĩa chính của bánh trùng dương! 

Bánh trùng dương chính tông thường được làm thành chín lớp, giống như một tòa bảo tháp, bên trên có khắc hai con dê (羊:dương), nhằm phù hợp với ý nghĩa trùng dương. Còn có loại bánh trùng dương phía trên được đặt một tấm giấy đỏ ( thay thế cho hột thù du ). Hiện nay, bánh trùng dương được làm theo nhiều kiểu, đều không cố định. Vào dịp tết này, khắp nơi chỉ cần có loại bánh mềm mịn, đều có thể gọi nó là “bánh trùng dương”.

“Cửu Nguyệt Cửu Nhật Ức Sơn Đông Huynh Đệ – Vương Duy”

Độc tại dị hương vi dị khách

Mỗi phùng giai tết bội tư nhân

Diêu tri huynh đệ đăng cao xứ

Thiên tháp thù xu thiểu nhất nhân!

九月九日忆山东兄弟 – 王维

独在异乡为异客

每逢佳节倍思亲

遥知兄弟登高处

偏插茱萸少一人

Dịch nghĩa: 

Mùng chín tháng chín nhớ anh em ở phía đông núi

Ta một mình ở nơi đất lạ làm khách

Mỗi lần gặp tết là lại nhớ người thân

Rõ biết ở nơi xa xôi kia, anh em đang đăng cao ngày lễ

Thân đeo thù du lên áo, chỉ thiếu mỗi ta đoàn tụ!

Tinh hoa món “canh dê màn đầu” của thành Trường An

Trường An là một kinh đô cổ của Trung Quốc, nằm ở tỉnh Thiểm Tây. Nơi đây có rất nhiều cảnh đẹp, nhiều công trình kiến trúc có giá trị lịch sử. Đặc biệt, nhắc tới Trường An, chúng ta không thể không nhắc tới món “canh dê màn đầu” – một nét đặc sắc trong văn hóa ẩm thực Trung Hoa nói riêng và văn hóa Trung Quốc nói chung.

Nguồn gốc món “canh dê màn đầu”

Căn cứ theo ghi chép lịch sử, “canh dê màn đầu” bắt nguồn từ thời Bắc Tống. Trong cuốn sách “Cảnh thế thông ngôn” (警世通言) của Mộng Long Hữu thời nhà Minh có ghi chép một câu chuyện có tên “Triệu Thái Tổ nghìn dặm tiễn Kinh nương” (赵太祖千里送京娘).

Tương truyền vào thời Ngũ đại thập quốc, lúc bấy giờ có Triệu Khuông Dận là một chí sĩ nghèo. Trong một lần đi đường, ông cảm thấy rất đói bụng, trong người chỉ có đúng hai chiếc bánh màn đầu khô. Bánh vừa khô vừa cứng, rất khó ăn, nó chỉ có tác dụng để nuôi dưỡng sự sống thôi chứ người thường cũng chẳng ai muốn ăn nó. Đúng lúc này, Triệu Khuông Dận phát hiện bên đường có một quán bán thịt dê. Thấy người thanh niên hoàn cảnh đáng thương, chủ quán bèn múc một bát canh dê đưa cho Triệu Khuông Dận. Ông liền nhận lấy bát canh nóng hổi, sau đó cho hai chiếc bánh màn đầu khô của mình vào để thưởng thức.

Sau này, Triệu Khuông Dận trở thành hoàng đế lập ra triều Tống, ông nhớ lại lúc bần hàn từng ăn “canh dê màn đầu”, bèn quay lại tìm quán thịt dê cũ trong thành Trường An để ăn. Chủ quán thấy hoàng thượng giá lâm vô cùng hoảng hốt, liền bảo thê tử lấy vài chiếc bánh xé thành từng vụn, rồi rưới canh lên, sau đó bà thái vài miếng thịt dê lớn bỏ vào bát, rắc thêm hành lá, miến, rau thơm vào. Bát “canh dê màn đầu” này đã khiến Triệu Khuông Dận tìm lại được mùi vị đã từng ăn khi xưa. Sau khi ăn xong, trên người ông cảm thấy vô cùng thoải mái dễ chịu, ban thưởng cho chủ quán xong liền rời đi. Dân chúng vì hiếu kỳ món ăn ưa thích của một vị hoàng đế nên cũng đến ăn thử. Chủ quán thấy vậy liền đổi tên quán từ “quán thịt” thành “quán canh dê màn đầu”. Lâu dần, người đến ăn ngày càng đông. Kể từ đó món canh dê màn đầu đã trở thành món ăn phổ biến của thành Trường An.

tống thái tổ triệu khuông dận
Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dận

Cách chế biến món “canh dê màn đầu”:

-Thực liệu: Thịt dê, miến, mộc nhĩ, tỏi, bánh màn đầu, hành hoa.

-Gia vị: Hương liệu (hoa tiêu, vỏ quế, hồi hương, lá nguyệt quế, quả địa thảo, bạch khấu…), rượu đặc chế, bột canh, dầu ớt, bột hồ tiêu trắng.

canh dê màn đầu thành trường an

Cách làm như sau:

1) Rửa sạch thịt dê, bỏ miếng gừng thái lát, rượu đặc chế vào nồi cùng với thịt dê đã rửa sạch cho vào chần sơ qua. Sau khi chần xong đưa ra ngoài rửa sạch. 

2) Cho thịt dê vào nồi, bỏ gừng thái lát, hoa tiêu, vỏ quế, hồi hương, lá nguyệt quế, quả địa thảo, bạch khấu…vào, lửa lớn đun sôi xong để lửa nhỏ lại, hầm tầm 2 tiếng. Trước khi tắt bếp cho vừa lượng gia vị mặn nhạt tùy theo khẩu vị.

3) Xé màn đầu ra thành từng miếng nhỏ tầm bằng đầu ngón út.

4) Ngâm miến, mộc nhĩ xong rửa sạch thái nhỏ, tỏi băm vụn, thịt dê sau khi hầm xong cắt thành miếng nhỏ.

5) Bật lửa đun sôi nồi canh dê, sau đó cho mộc nhĩ, miến cùng với màn đầu đã xé nhỏ vào. Sau khi đun sôi, cho miếng thịt đã cắt, rắc thêm bột hồ tiêu trắng. Trước khi múc ra bát phải chuẩn bị sẵn dầu ớt, rắc tỏi vào là được. 

Bánh màn đầu xé nhỏ
Bánh màn đầu xé nhỏ

=====================================================

Cái tinh túy trong “canh dê màn đầu” chính là màn đầu. Ở Tây An, muốn ăn “canh dê màn đầu” thì phải xé chiếc bánh thật nhỏ. Ai xé càng nhỏ thì chứng minh người đó ăn được món này mùi vị sẽ càng chính tông. Vì vậy, để ăn được món “canh dê màn đầu” mỹ vị như thế thì khi xé bánh mọi người phải thật kiên nhẫn nhé!

Có người từng nói: “Trên thế giới này, thứ có thể chữa lành được con người, thứ nhất là mỹ vị, thứ hai mới là câu chữ”. Vì vậy, dù câu chữ có tuyệt diệu đến đâu thì cũng không thể diễn tả hết được cái đẹp của thức ăn ngon. Chỉ khi bạn đích thân trải nghiệm mới có thể phát hiện ra cái mị lực trong nó!

*Màn đầu là một loại bánh giống như bánh bao nhưng không có nhân bên trong.

Nguồn: baidu, sohu

Biên dịch & biên tập: Nguyễn Bích Việt Anh

Ý nghĩa của bánh trung thu

Bánh trung thu được coi là đồ cúng để người cổ đại tế bái Nguyệt thần. Truyền thống đó đã được lưu truyền đến nay, hình thành nên tập tục mỗi khi đến dịp tết trung thu là mỗi nhà đều sẽ ngồi quây quần bên gia đình ngắm trăng và ăn bánh.  Và bởi bánh trung thu có dạng hình tròn, tượng trưng cho sự đoàn viên, phản ánh những tâm nguyện đẹp đẽ của mỗi một con người khi được đoàn tụ bên gia đình. Không chỉ vậy, mỗi khi ăn bánh trung thu, nhà nhà đều sẽ chia nhau ra ăn, nên ý nghĩa đó đã dần dần hình thành nên biểu tượng của một gia đình đoàn tụ quay quần. Vừa ăn bánh vừa ngắm trăng! Đây là ngày tết chan chứa đầy ý nghĩa sâu sắc và cũng là ngày có mặt trăng tròn nhất trong một năm.

Tết trung thu được bắt nguồn từ văn hóa Trung Quốc và cũng được coi là dịp lễ tết truyền thống của nước ta. Cứ vào ngày 15 tháng 8 âm lịch hàng năm, mỗi nhà đều ngồi quay quần xung quanh, cùng nhau ngắm trăng, và cùng thưởng thức món bánh trung thu đặc trưng truyền thống.

Bánh trung thu có ý nghĩa như thế nào?

Tết trung thu ăn bánh dường như đã trở thành một thứ tập tục ràng buộc mỗi một con người chúng ta. Vậy, đây là vì sao? 

Tương truyền vào cuối thời triều Nguyên, Chu Nguyên Chương lãnh đạo dân tộc người Hán phản kháng chính sách bạo hành của triều đại nhà Nguyên. Chọn ngày 15 tháng 8 là ngày khởi nghĩa, thông qua cách cho giấy vào bánh rồi tặng lại lẫn nhau làm nguồn thông tin để truyền đạt tình báo, thành công lật đổ triều Nguyên. Vì để kỷ niệm chiến công này, từ đó cứ mỗi dịp tết đến, tập tục ăn bánh trung thu đã dần dần lan tỏa và được lưu truyền tới nay. 

ý nghĩa của bánh trung thu

Bính:(饼:bánh )

Bánh trung thu (月饼: Nguyệt bính) – cũng được gọi là Hồ Bính (胡饼), Cung Bính(宫饼), Tiểu Bính (小饼), Nguyệt Đoàn (月团), Đoàn Viên Bính(团圆饼: Bánh đoàn viên) …

Bánh trung thu ở Trung Quốc đã có lịch sử từ lâu đời. Theo ghi chép của Sử ký, đã sớm có từ thời nhà Ân, Chu… Ở Giang Tô và Chiết Giang sớm đã có “Bánh Thái Sư” (太师饼)- là “tổ tiên” của bánh trung thu, được lấy làm vật kỷ niệm cho lòng bác ái nhân hậu của Thái sư Văn Trọng. Lúc Trương Kiển của thời nhà Hán đi sứ Tây Vực, ông đã chọn vừng, hồ đào, hạnh nhân… làm nguyên liệu để chế tác ra bánh trung thu. Lấy tên làm “Hồ Bính” (胡饼)

Đến thời Đường, trong dân gian đã có đầu bếp chuyên sản xuất ra bánh trung thu. Không chỉ vậy, nó cũng đã trở thành món điểm tâm có tiếng khắp các mặt phố của Kinh thành Trường An, nhưng vẫn chưa trở thành tập tục ăn bánh mỗi khi dịp tết đến. Tương truyền vào một đêm của tết trung thu, Dương quý phi trong lúc đang ngồi ngắm trăng, thấy chiếc bánh hồ giống với hình dáng của mặt trăng, liền thốt lên hai chữ “Nguyệt bính” (月饼:bánh trăng – bánh trung thu ). Từ đó, cái tên “bánh trăng” đã được lan truyền khắp dân gian.

bánh trung thu

Đến thời kỳ Bắc Tống, cứ mỗi vào dịp này, con cháu trong hoàng thất đều thích một loại bánh có tên “Cung bính” (宫饼), dân gian goi là “Tiểu Bính” (小饼)

Triều Minh, đã có một đầu bếp làm bánh thông minh, chuyên dùng những công cụ điêu khắc để khắc lên những họa tiết mang tính câu chuyện thần thoại “Thỏ Ngọc lên cung trăng” nhằm gây hứng thú cho người ăn bánh. Lúc đó, tục lệ tết trung thu ăn bánh trung thu đã dần dần lan truyền khắp nơi. Câu chuyện thần thoại của chiếc bánh vừa xuất hiện, lập tức đã nhận được rất nhiều sự hoan nghênh của nhân dân. Vào cuối triều Nguyên, triều đình mục nát, chính phủ bạo tàn, phần lớn nhân dân trung nguyên không chịu được sự áp bức bóc lột, liền nổi dậy đấu tranh. Chu Nguyên Chương hợp lực cùng với các thế lực phản kháng chuẩn bị nổi dậy, nhưng quan binh triều đình lục soát chặt chẽ, muốn truyền đạt tin tức cũng vô cùng khó khăn. Quân sư Lưu Bá Ôn liền nghĩ ra một kế, mệnh lệnh thuộc hạ giấu đi tờ giấy có ghi “tối 15 tháng 8 khởi nghĩa” giấu vào trong bánh, rồi phái người truyền nhau đem đến các đội quân phản lực nhằm thông báo thông tin. Từ đó, đã một phen lật đổ triều Nguyên. Vì để kỷ niệm chiến công vang dội, tập tục trung thu ăn bánh đã dần được lưu truyền.

tại sao phải ăn bánh trung thu vào tết trung thu

Tập tục của tết trung thu có rất nhiều, hình thức cũng không giống nhau, nhưng nó đều gửi gắm một sự hướng vọng về cuộc sống tươi đẹp và nhiệt huyết vô hạn đến với cuộc sống. Dịp tết trung thu được con là dịp lễ đẫm ý “tình”, là dịp tết mang ý nghĩa tình thơ ý họa nhất! Có người nói: “mỗi lần tết đến lại nhớ người thân”, tâm tư tình cảm của mỗi người gửi vào trong dịp tết này là sự đằm thắm nhớ nhung. Đặc biệt là thời khắc mà ánh trăng soi sáng cả một vùng trời!

圆月挂天边

情字心中牵

寂寞嫦娥舞

千里共婵娟

Viên nguyệt quải thiên biên  

Tình tự tâm trung khản

Tịch mịch thường nga vũ

Thiên lý cộng thuyền quyên.

( Trăng tròn treo trên trời cao

  Chữ “tình” còn vương vấn trong tim

  Cô đơn ngắm Hằng Nga đang múa

  Vạn dặm thấy tư thái vầng trăng ) 

Nguồn: Baidu

Biên dịch & biên tập: Nguyễn Bích Việt Anh

Lễ nghi bắt tay của Trung Quốc có ý nghĩa gì?

Bắt tay là phương thức biểu đạt cơ bản và hữu hảo nhất giữa người với người, là lễ nghi có thể dùng trong tất cả mọi hoàn cảnh, đặc biệt là khi hai bên lần đầu gặp mặt. Loại lễ nghi này không phải là lễ nghi truyền thống văn hóa Trung Quốc. Nhưng khi nó được lưu truyền từ các nước phương Tây sang, rất nhanh đã được mọi người tiếp nhận. Vậy thì ý nghĩa lớn nhất của lễ nghi bắt tay ở Trung Quốc là gì?

Ý nghĩa trong lễ nghi bắt tay của Trung Quốc

Bắt tay có nguồn gốc đến từ Châu Âu, từ sau cách mạng Tân Hợi thì bắt đầu hội nhập vào Trung Quốc. Nhà cách mạng Tôn Trung Sơn cho rằng, đất nước hơn mấy nghìn năm đều thịnh hành lễ nghi quỳ bái, là tượng trưng cho chế độ phong kiến và đẳng cấp của lễ giáo, muốn đạp đổ sự thống trị phong kiến của triều đại nhà Mãn Thanh thì nhất định phải phá tan lễ chế của nó.

Bắt tay là một bộ phận không thể thiếu trong giao tiếp. Lực nắm cùng với tư thế và thời gian dài ngắn luôn luôn có thể bày tỏ rõ nét thái độ và đãi ngộ của ta đối với đối phương, thể hiện rõ cá tính của cá nhân, để lại cho họ nhiều ấn tượng khác nhau. Ta cũng có thể thông qua cái bắt tay để hiểu rõ tính cách của họ, từ đó giành được quyền chủ động trong giao tiếp. Thông thường ta đều có thể bắt gặp người ta dùng  nghi lễ bắt tay khi hai bên lần đầu gặp mặt, người quen lâu ngày mới gặp, từ biệt hoặc đưa tiễn ai đó.

Trong một số hoàn cảnh đặc biệt, ví dụ khi muốn bày tỏ lời chúc, cảm tạ hoặc an ủi hay hai bên trong lúc trò chuyện có cùng điểm chung khiến người khác hài lòng, hoặc sự mâu thuẫn giữa hai bên đột nhiên có sự chuyển biến theo chiều hướng tốt đều có thể thông qua cái bắt tay. Trong lúc bắt tay, cự ly cách đối phương hơn một bước chân, cơ thể hơi hướng về phía trước, hai tay để trong tư thế nghiêm, dơ ra tay phải, bốn ngón khép lại, tay cái hướng dưới, rồi bắt tay với người nhận lễ. 

bắt tay lịch sự

Nếu lòng bàn tay hướng xuống nắm chặt lấy đối phương, biểu hiện rõ lòng muốn chi phối người khác, và họ có ý tỏ ra rằng lúc này họ có địa vị cao hơn người khác. Ta nên tránh xa kiểu bắt tay kiểu ngạo và vô lễ như vậy. Ngược lại, bàn tay hướng vào trong sẽ biểu hiện ra một con người vô cùng khiêm tốn và kính cẩn, bình đẳng mà tự nhiên, đây là cách bắt tay thông thường và cũng là cách ổn thỏa nhất.

Bắt tay khi đang đeo găng tay là một hành vi vô cùng thất lễ. Đàn ông trước khi bắt tay nên tháo bỏ chiếc găng, cởi chiếc mũ xuống. Đàn bà có thể ngoại lệ. Trong lúc bắt tay, hai bên nhìn nhau, mỉm cười hỏi thăm, không nên nhìn sang người thứ ba vì như thế thể hiện rõ sự thất lễ vì mất tập trung.

Bắt tay ta nên khống chế thời gian từ 3-5 giây. Nếu như muốn bày tỏ sự chân thành của bản thân thì cũng có thể bắt với thời gian dài hơn, và đưa tay vài cái. Trong lúc bắt hai tay vừa chạm rồi bỏ ra luôn, thời gian quá ngắn sẽ khiến người khác cảm thấy giống như bắt cho xong chuyện hoặc đối phương có ý gì xấu. Còn thời gian quá dài, đặc biệt là với người khác giới hoặc người lần đầu gặp mặt, nắm chặt không buông, lại giống như thể hiện sự giả dối, thậm chí còn bị người khác nghi ngờ rằng “lợi dụng cầm tay” .

*Giữa trưởng bối và hậu bối: Trưởng bối đưa tay ra xong thì hậu bối mới được đưa tay ra bắt.

*Giữa cấp trên và cấp dưới: Cấp trên đưa tay ra bắt, thì cấp dưới mới được bắt lại.

*Giữa nam giới và nữ giới: Nữ giới đưa tay ra xong, thì nam giới mới được đưa tay ra bắt. Tất nhiên, nếu như nam giới là người lớn tuổi hơn thì sẽ làm theo lễ nghi của trưởng bối và hậu bối.

Nếu như ta cần bắt tay với nhiều người, trong lúc bắt phải dựa theo thứ tự trước sau, từ cao đến thấp, từ người lớn tuổi hơn rồi mới đến người nhỏ tuổi hơn. Trước trưởng bối sau vãn bối, trước thầy cô sau học sinh, trước nữ giới sau nam giới, trước người đã kết hôn sau đó mới đến người chưa kết hôn, trước cấp trên rồi mới đến cấp dưới. Trong giao tiếp nếu quá đông người thì ta có thể bắt tay với những người bên cạnh, rồi quay sang gật đầu ra hiệu hoặc có thể khom lưng cúi chào. Nếu như muốn tránh những tình huống khó coi phát sinh, ta nên xem trước là đối phương có hoan nghênh mình hay không. Nếu đã nhận ra đối phương không có ý bắt tay, thì ta nên cúi đầu ra hiệu hoặc khom lưng nhẹ là được.

Trong những nơi làm việc, thứ tự của việc bắt tay trước sau sẽ được quyết định bởi thân phận và chức vị. Còn trong khi xã giao, nó chủ yếu sẽ quyết định bởi độ tuổi, giới tính và hôn nhân. Khi tiếp đãi khách đến thăm nhà, vấn đề này sẽ trở nên đặc biệt hơn chút, việc bắt tay sẽ do chủ nhà dơ tay chào hỏi với khách. Còn khi khách muốn chào từ biệt, thì sẽ do khách dơ tay để chia tay chủ nhà. “Trước hoan nghênh, sau từ biệt”. Nếu như trật tự bị đảo lộn, thì sẽ rất dễ gây ra hiểu lầm.

Bắt tay nhìn vào đơn giản, nhưng nó lại là cái lễ nghi tối thiểu trong giao tiếp. Một cái bắt tay nhỏ cũng có thể thể hiện được khí chất của cá nhân mình. Chỉ là một lễ nghi cơ bản nhưng lại bao hàm cả một triết lý thâm sâu trong đó.

Nguồn: 第一星座网

Biên Dịch: Nguyễn Bích Việt Anh

Triều đại duy nhất lịch sử Trung Quốc không có hôn quân

Quyền lực quốc gia tối cao nhất trong thời đại lịch sử Trung Quốc đều là do hoàng đế nắm quyền. Năng lực và phẩm chất của hoàng đế quyết định đường lối của cả một triều đại. Trong lịch sử các triều đại đều xuất hiện rất nhiều các vị minh quân! Ví dụ như Hán Vũ Đế của thời nhà Hán, Đường Thái Tông của thời nhà Đường…nhưng các thời đại này cuối cùng cũng đều rơi vào kết cục bị hôn quân lật đổ. Vậy triều đại duy nhất không có hôn quân trong lịch sử Trung Quốc là triều đại nào? Triều đại này về sau có vận mệnh ra sao?

Triều đại Trung Quốc không có hôn quân – triều đại nhà Thanh.

( Từ Hoàng Thái Cực/ Khang Hy/ Càn Long…Ai nấy cũng đều là một vị minh quân )

Thật ra triều đại nhà Thanh là triều đại mà đến ngay cả một vị hôn quân cũng không có! Tại sao lại như vậy? Chúng ta cùng tìm hiểu nhé!

Mình tin có nhiều bạn hay tìm hiểu đến lịch sử của thời nhà Thanh đều sẽ biết: Triều Thanh là chính quyền được người Nữ Chân kiến lập. Nỗ Nhĩ Cáp Xích là người hoàn toàn thống trị cả một bộ tộc Nữ Chân, sáng lập nên chính quyền Hậu Kim, là nền tảng cho việc khai quốc của triều đại nhà Thanh. Không cần nói, đây tuyệt đối là một vị minh quân. Tiếp theo chính là con trai thứ tám của Ái Tân Giác La. Nỗ Nhĩ Cáp Xích – Ái Tân Giác La Hoàng Thái Cực. Đây cũng là người sáng lập nên chính quyền triều Thanh, là vị hoàng đế khai quốc chính thức. Trong những năm tại vị chinh phục triều tiên, trọng dụng người hán làm quan, xã hội cực kỳ ổn định.

Hai người trên đều có thể nói đều là người sáng lập nên đại bộ phận thế lực quốc thổ. Còn những hậu duệ về sau thì phải cần bảo vệ lãnh thổ mà cha ông để lại. Vị hoàng đế thứ ba của thời nhà Thanh là Thuận Trị đế. Đây cũng là vị hoàng đế đầu tiên định đô ở Bắc Kinh. Trong thời gian tại vị, Thuận Trị đã trừng phạt rất nhiều tên tham quan, đồng thời cũng rất chú trọng sự phát triển của nông nghiệp. Lãnh thổ của triều Thanh cơ bản cũng đã đều đi tới thống nhất.


Khang Hy là vị hoàng đế thứ tư của triều này và cũng là vị hoàng đế rất có danh tiếng. Trong thời gian tại vị đã đánh tan âm mưu muốn chiếm đoạt lãnh thổ Đại Thanh của Sa Nga ( nước Nga ), đánh bại quân đội Nga Hoàng. Trong trận chiến trên biển Bành Hồ cũng đã thành công thống nhất Đài Loan, kiến tạo nên một cục diện tốt đẹp của “Khang Càn thịnh thế”.

Hoàng đế Khang Hy
Hoàng đế Khang Hy

Ung Chính đế là con trai thứ tư của vua Khang Hy. Ung Chính đế tại vị chủ yếu để phát triển về chính quyền triều Thanh, phế bỏ các chế độ tiện tịch không hợp lý…, giảm nhẹ gánh nặng cho nông dân, gia tăng nhân khẩu xã hội. Ung Chính đối với vấn đề chính trị luôn rất mực quan tâm và cần mẫn.

Càn Long là người kế thừa của Ung Chính. Về vấn đề chính trị, Càn Long đế cũng đều không kém gì các tổ tiên đi trước. Đối với xã hội đương thời cũng tiến hành rất nhiều cải cách, đồng thời cũng có cống hiến quan trọng cho việc ổn định biên giới Tây Bắc. Bản thân vua Càn Long cũng là một người vô cùng tài hoa, trong thời gian tại vị cũng xuất hiện rất nhiều các vị văn võ đại thần xuất sắc như Kỷ Hiểu Lam.

Gia Khánh đế là vị hoàng đế bắt đầu đi đến biểu hiện thời suy thoái của triều Đại Thanh, nhưng đây không thể nói ông là một vị hôn quân. Khi ông tại vị, đã nghiêm cấm sử dụng nha phiến ( thuốc phiện ), và đã cự tuyệt tất cả những yêu cầu vô lý của nước Anh đặt ra.

Trong thời kỳ Hoàng đế Đạo Quang đã xảy ra một cuộc chiến tranh thuốc phiện làm chấn động cả Trung ngoại. Nhưng Đạo Quang đế luôn là người hết mực cần mẫn về chính trị, để rồi sau đó ưu sầu thành bệnh.

Vị hoàng đế thứ chín của triều Đại Thanh là vua Giảm Phong. Lúc đó, Đại Thanh đã phải đối mặt với nội trong giặc ngoài. Giảm Phong đế vừa thượng vị đã bắt đầu sử dụng lượng lớn việc cải cách chính quyền, trọng dụng người hán Tằng Quốc Phan…, bắt đầu mở ra con đường vận chuyển qua nước ngoài…Nhưng tiếc rằng, dù vậy cũng vẫn không thể cứu vãn được triều Thanh đang trong giai đoạn suy thoái.

Đồng Trị đế và Quang Tự đế là hai vị hoàng đi bắt đầu đi đến thời kỳ mạt Thanh. Tuy rằng hai người họ cũng không làm thay đổi được gì nhiều, nhưng dưới sự phò tá của Lý Hồng Chương, Tả Tông Đường, Trương Chi Đỗng…vẫn có thể đón chào được sự hưng thịnh ngắn ngủi dưới sự trị vì của thời kỳ Đồng Quang. Năm 1898, ông nhận thấy rõ sự lụi bại của quốc gia, vậy nên đã tuyên chiếu thánh chỉ, ý đồ dẫn dắt đoàn người Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi…phát động cuộc cải cách Mậu Tuất do Khang Hữu Vi đề xướng. Tuy nhiên, lại chịu sự phản đối quyết liệt thủ cũ của Từ Hy thái hậu. Vì vậy, Từ Hy phát động chính biến, giam lỏng Quang Tự đế vào Doanh Đài phía Tây cố cung. “Mậu Tuất biến pháp” từ đó kết thúc. Sau khi Quang Tự bị giam lỏng, uất ức sinh bệnh, không lâu sau thì qua đời ( Quang Tự năm thứ 34 – năm 1908 ). Quang Tự không có con nối dõi, vì vậy Từ Hy thái hậu đã lựa chọn cháu nội của Thuần Hiền Thân Vương, con trai của Nhiếp Chính Vương: Phổ Nghi lên làm hoàng đế – đây là vị hoàng đế cuối cùng của triều đại nhà Thanh.

Ái Tân Giác La. Phổ Nghi tức Tuyên Thống đế. Vị hoàng đế cuối cùng chấm dứt thời kỳ phong kiến Trung Quốc. Ông 2 lần tại vị từ năm 1909 đến 1912, và từ 1/7/1917-12/7/1917. Năm 1911, cách mạng Tân Hợi bùng nổ, 12/2/1912 ông bị ép thoái vị. Sự thống trị của triều Thanh kết thúc! Đến năm 1917 dưới sự khống chế của người Nhật Bản, ông lại lần nữa phải làm hoàng đế rối của nước Mãn Châu, được xưng làm “Khang Đức hoàng đế”. Công nguyên năm 1945, tiền Tô Liên tuyên chiến Nhật Bản tiến công Mãn Châu. Sau khi Nhật Bản đầu hàng, Phổ Nghi chuẩn bị trốn sang Nhật Bản thì lại bị hồng quân Tô Liên bắt giữ, sau bị coi thành phạm nhân chiến tranh bắt giam vào tù. Sau Phổ Nghi được thông qua hội nghị thương thảo toàn quốc đặc xá ra tù, bị phân đến công viên Bắc Kinh làm người bán vé, nhưng cuối cùng Phổ Nghi vì do ung thư thận nên qua đời.

Nguồn: baidu

Biên dịch & biên tập: Nguyễn Bích Việt Anh

Vịt quay Bắc Kinh – ẩm thực tinh túy trăm năm

Vịt quay Bắc Kinh là món ăn được nhắc đến rất nhiều khi nói đến ẩm thực Trung Hoa nói chung và ẩm thực Bắc Kinh nói riêng. Có thể nói: “Vịt quay là món ăn nổi tiếng nhất Bắc Kinh” với lịch sử lâu đời và được bắt nguồn từ xa xưa. Cùng với độ tiếng tăm của nó, từ trăm năm nay đã chất chứa bao nhiêu câu chuyện cùng với kỹ thuật nướng vịt đặc sắc mà ít người biết đến.

“Kinh sư mỹ soạn, mạc miểu vu áp” (京师美撰,莫秒于鸭)

Áp (鸭): Vịt

Lịch sử của vịt quay Bắc Kinh:

Trước khi thành lập tân Trung Quốc, “vịt quay” được gọi là “chích áp”(炙鸭)hoặc “thiếu áp” (烧鸭)(đều có nghĩa là: vịt nướng, vịt quay), trong “Thực trân lục” của Nam Bắc triều đều có ghi chép. Đến thời kỳ Nam Tống, vịt nướng đã trở thành món ăn nổi tiếng trong “thị thực” (món ăn phố) của Lâm An (Hàng Châu), rất được sự yêu thích của các sĩ phu. 

Trong “Ẩm thiện chánh yếu” của thời Nguyên có ghi chép, lúc đó cung đình đã có món vịt quay, thường dùng lò nướng để chế biến, chọn những con vịt Hồ có kích thước nhỏ của Nam Kinh, những con vịt được quay xong sẽ được gọi là: “Kim lăng phiến bì khảo áp”, có cùng một nguồn gốc và cách chế biến với vịt quay Bắc Kinh, đến thời triều Minh mới xuất hiện. Công nguyên năm 1368, Chu Nguyên Chương xưng đế, đóng đô tại Nam Kinh. Tương truyền Chu Nguyên Chương cực yêu thích món vịt quay, đến nỗi “một ngày phải ăn hết một con”. Các ngự trù vì để lấy lòng hoàng đế nên đã nghiên cứu điều chế ra các loại chưng, hấp, nướng…Đây chính là cơ sở cho việc hình thành nên món vịt nướng môn lô và vịt nướng quế lô. 

Sau khi Minh Thành Tổ – Chu Lệ rời đô, các phương pháp điều chế vịt quay của ngự trù cung đình đều từ Nam Kinh mang đến Bắc Kinh, phôi vịt cũng từ vịt muối Nam Kinh trở thành vịt nướng Bắc Kinh.

Theo sự biến đổi của các triều đại, vịt quay trở thành mỹ vị của cung đình Minh, Thanh. Tập ( Đế kinh tuế thời ký thắng ) ( Đô môn tạp ký )… của triều đại nhà Thanh đều có ghi chép, các phòng ngự trù của cung đình vào mỗi tết trung thu, trừ món bánh quế hoa ra thì đều phải chuẩn bị Lô áp (vịt nướng) để dâng lên đế vương thưởng thức, rất được vua Càn Long ưa chuộng. Từ năm Càn Long, vịt quay được chính thức trở thành “vịt quay Bắc kinh”, và rất được thịnh hành ở dân gian.

Tiện Nghi Phường - Vịt quay Bắc Kinh
Tiện Nghi Phường

Hiện nay, lấy Tiện Nghi Phường làm đại diện cho món vịt nướng Môn Lô và lấy Toàn Tụ Đức làm đại diện cho vịt nướng Quế Lô, đều đã trở thành hai đại bang phái nổi tiếng của vịt quay Bắc Kinh: “mỗi bên một vẻ, mười phân vẹn mười”.

Nguồn gốc trăm năm của Tiện Nghi Phường và Toàn Tụ Đức 

Tổ tiên của vịt quay Bắc Kinh ở quán vịt quay Tiện Nghi Phường, ngõ Mễ Thị, đường Thái Thị. được sáng lập từ năm 14 thời Vĩnh Lạc của triều đại nhà Minh ( năm 1416 ), cách nay đã có hơn 600 năm lịch sử. Tương truyền, Tiện Nghi Phường cũng là từ Nam Kinh chuyển tới. Trên tấm biển của “Tiện Nghi Phường” cũ còn đặc biệt khắc dòng chữ nhỏ: “Kim Lăng Khảo Áp”. 

Cái tên của Tiện Nghi Phường, có một đoạn điển cố được ghi chép trong lịch sử. Năm thứ 30 của Minh Gia Tĩnh (năm 1552), Dương Kế Thịnh ( tự Trung Phương, hiệu Thục Sơn ) kế nhiệm chức Binh bộ ngoại lang, nhà ở ngoài thành Tuyên Võ Môn.

Một ngày nọ, Dương Kế Thịnh trên triều đường đại điện dùng nghiêm từ tố cáo gian tướng Nghiêm Tung, lại bị Nghiêm Tung vu oan giá họa. Sau khi xuống triều, trong lòng oan ức, bụng đói cồn cào, liền tới ngõ Mễ Thị, đường Thái Thị, ngửi thấy hương thơm tứ vách, gặp một quán nhỏ liền đẩy cửa bước vào.

Dương Kế Thịnh tìm ghế vào ngồi, gọi món vịt quay cùng với một vài thức ăn khác. Sau khi ăn uống no nê, liền vứt hết nỗi sầu cùng với muộn phiền ra tận ngoài Cửu Tiêu Vân ( Cửu Tiêu Vân: phía ngoài Cửu Trùng Thiên – ý là tất cả các phiền muộn đều bay theo mây gió). Trong các vị khách có người nhận ra Dương Kế Thịnh, được biết ông là tướng tài yêu nước, liền báo với chủ quán. Chủ quán đích thân tới rót rượu, biểu lộ ra nét mặt khâm phục, hai người dần dần chuyện trò. Dương Kế Thịnh biết được quán này có tên “Tiện Nghi Phường” lại thấy đãi khách chu đáo, thán nói: “Quán này quả thực Tiện Nghi, kỳ thực xứng đáng!”. Sau khi ăn xong, Dương Kế Thịnh liền lấy bút mực, đung đưa vài nét liền viết xong ba chữ lớn “Tiện Nghi Phường”, ai ai cũng đều khen đẹp. Từ đó, Dương Kế Thịnh cùng với các bằng hữu trong triều tới quán liên tục.

Sau này, Dương Kế Thịnh bị Nghiêm Tung hãm hại vào ngục, cuối cùng phải chết. Nghiêm Tung bắt chủ quán của Tiện Nghi Phường tháo xuống biển hiệu, chủ quán không cho. Xong, Nghiêm Tung phái người lôi biển hiệu xuống, chủ quán lấy thân hộ biển, sau bị đánh đập đến chết, Nghiêm Tung thấy vậy liền thôi. Tiện Nghi Phường từ đó danh tiếng truyền bá khắp nơi, tấm biển này vẫn được lưu truyền đến nay.

Cửa tiệm Vịt quay Bắc Kinh nổi tiếng - Tiện Nghi Phường cuối đời Thanh
Cửa tiệm Tiện Nghi Phường cuối đời Thanh

Đến triều nhà Thanh, tuy rằng Tiện Nghi Phường đã mấy đời đổi chủ, nhưng buôn bán vẫn luôn hưng thịnh, ngày ngày đều cung không đủ cầu. Hiện nay, tổng chủ Phường đã rời đến thành Tông Văn. Tiện Nghi Phường lựa chọn dùng phương pháp chế biến của “vịt nướng Lô Môn”. Cái được gọi là “Lô Môn” chính là dùng lò hun, đợi lửa tắt rồi đưa vịt để vào trong, nướng vịt không được thấy rõ lửa, trong con vịt đổ vào món canh đặc chế, hình thành thế ngoài nướng trong đun, ngoài giòn trong non, béo mà không ngán, rất có hương vị riêng.

Để vịt quay được đầy đủ thù không thể thiếu hành, dưa chuột, thêm vào đó là nước chấm tương ngọt đậm vị. Vịt quay truyền thống của Bắc Kinh trước khi vào cho vào lò quay là không cho gia vị, hương vị của vịt quay đều nhờ đồ gia vị làm tôn lên đặc trưng của nó. Trên khẩu vị, cách ăn vốn rất nhất quán. Vì thế, quán ăn trăm năm này đã nghĩ ra một cách đặc chế mới, trước khi quay sẽ cho hạt sen, táo tàu, hương trà vào phôi vịt, vừa tăng thêm độ dinh dưỡng lại tăng thêm độ đậm đà của mùi vị, cách ăn này lại có cải tiến thêm một bước nữa. Món ăn còn được đặt thêm một cái tên hay mới, tên: “Hoa hương tô”. Bước cải tiến này lập tức đã kêu gọi được biết bao vị khách yêu thích món vịt quay.

Tiện Nghi Phường những năm 80 thế kỉ trước - Vịt quay Bắc Kinh
Tiện Nghi Phường những năm 80 thế kỉ trước

Trong lúc việc làm ăn Tiện Nghi Phường lên đến đỉnh cao, trấn Tiền Môn đột nhiên xuất hiện một quán vịt quay mới – Toàn Tụ Đức.

Người thành lập nên Toàn Tụ Đức tên Dương Thọ Sơn, là người nhà họ Dương của Dịch huyện tỉnh Hà Bắc. Trong nhà có mấy mấy người chỉ biết lao tâm khổ tứ với mấy mẫu đất bạc, nhưng vì ăn không no đủ, những năm đầu thời Thanh Giảm, quê nhà chịu thiên tai, Dương Thọ Sơn chỉ có thể rời quê đi tha hương cầu thực, vào kinh mưu sinh. Ban đầu, Dương Thọ Sơn buôn bán gà vịt, lấy gà vịt vặt lông mổ bụng, bỏ đi ngũ tạng, tiêu thụ ở đường lớn ngoài Tiền Môn. Bởi vì làm việc cần mẫn, làm ăn tiến triển, Dương Thọ Sơn dần dần có chút tích lũy. Năm thứ 3 của Thanh Đồng trị vì (năm 1864), Dương Thọ Sơn mua lại một gian bán hoa quả có tên “Đức Tụ Toàn”, rồi nghe theo sự chỉ bảo của ông thầy phong thủy, đổi tên “Toàn Tụ Đức”.

bảng hiệu Toàn Tụ Đức
Bảng hiệu Toàn Tụ Đức

Dương Thọ Sơn là người tinh thông việc mua bán, thấy Tiện Nghi Phường làm ăn phát đạt, liền có suy nghĩ muốn chuyển sang bán vịt quay. Sau khi cùng mọi người trải qua nhiều lần thử nghiệm, nhiều lần tìm tòi, vịt quay Quế Lô cuối cùng cũng thành công. Dương Thọ Sơn dùng số tiền lớn để mời ngự trù của Thanh cung về chưởng quản.

Cái được gọi là vịt quay Quế Lô, là dùng lò chịu nhiệt, nhóm lửa bên trong, nướng nóng chiếc lò trước để cửa lò hấp thu cái nóng vào trong, sau đó mới cho vịt vào. Trong lò tỏa ra sức nóng khiến con vịt được nướng chín. Lò quế lô sử dụng nhiên liệu chính là quả mộc, những con vịt được ra lò có hương vị thanh mát, da giòn thịt non. Từ đó, Toàn Tụ Đức lấy phương pháp nướng mới để thu hút nhiều vị khách đến thăm.

Khách tới tiệm chọn mua vịt quay
Khách tới tiệm chọn mua vịt quay

Thời kỳ dân quốc, Toàn Tụ Đức thân là hậu bối, nhưng lại có xu thế vượt qua cả Tiện Nghi Phường.Sau đó, Toàn Tụ Đức lại phá vỡ quy tắc chỉ bán mang về chứ không bán chỗ ngồi, lập tức bán chỗ ngồi để tiện kéo khách, trở thành một quán ăn lấy vịt quay làm chủ. Phường thấy vậy, liền theo chân thu mua chỗ ngồi. Chỉ vì tranh đoạt khách hàng, Toàn lại phát minh ra “phiếu vịt”, một là để tặng khách hàng những ngày lễ tết, hai là gia tăng tiêu thụ. Buôn bán của Toàn Tụ Đức ngày một hưng thịnh, ngược lại Tiện Nghi Phường ngày một yếu thế. Đến khi Tân Trung Quốc thành lập, Tiện Nghi Phường thông qua cải cách tân tiến, mới một lần nữa sánh ngang hàng với Toàn Tụ Đức.

Năm 2006, “Kỹ thuật vịt quay Mân Lô của Tiện Nghi Phường” và “Kỹ thuật vịt quay Quế Lô của Toàn Tụ Đức” đều được liệt vào top đầu di sản văn hóa phi vật thể của thủ đô Bắc Kinh. 

vịt quay bắc kinh

Hai đời Thanh, Minh…ai từng ngờ được đến ngày hôm nay của hàng trăm năm sau, vịt quay lại có thể trở thành dòng nước chảy của truyền thống văn hóa Trung Quốc, và còn nở rộ ánh hào quang của nó ở trong thời kỳ đổi mới.

Vịt quay Bắc Kinh là nét tinh hoa trong văn hóa Trung Quốc nói chung cũng như văn hóa ẩm thực Trung Hoa nói riêng. Nếu một ngày có cơ hội tới tham quan Bắc Kinh, bạn nhất định phải một lần thưởng thức món ăn nổi tiếng này nhé!

Nguồn: Baidu

Biên dịch & biên : Nguyễn Bích Việt Anh